Online : 1
Tổng lượt : 1722

Hỗ trợ khách hàng

Giám đốc

Giới thiệu

Công ty TNHH SX TM - DV CƠ KHÍ HIỆP LỰC xin gửi lời chào và lời chúc sức khỏe, thành đạt tới toàn thể quý vị. CÔNG TY TNHH  SX - TM - DV CƠ KHÍ HIỆP LỰC là một công ty chuyên...
Chi tiết
cơ khí hiệp lực, cơ khí

Gia công cơ khí Việt Nam mới đáp ứng hơn 30% nhu cầu

SGTT - Giá trị sản xuất toàn ngành cơ khí hiệp lực năm 2007 đã tăng gấp 7,92 lần so với năm 1995, nhưng mới đáp ứng được khoảng 31,1% nhu cầu thị trường trong nước, trong khi đây là thị trường rất lớn. Giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng liên tục tăng và bằng 24,1% tổng giá trị nhập khẩu của cả nước năm 2008.

 

Gia công cơ khí trong nước và bài toán nhập siêu

Gần đây, vấn đề được Chính phủ nhìn nhận là tình trạng nhập siêu luôn ở mức báo động, do có vấn đề trong việc nhập khẩu quá lớn lượng máy móc thiết bị của nước ngoài, chứ không phải là việc nhập khẩu các sản phẩm như ô tô hay hàng tiêu dùng...

Theo bộ Công thương, mấy năm qua, tỷ lệ giá trị sản xuất cơ khí hiệp lực trong nước trên tổng giá trị toàn ngành cơ khí hiệp lực bị suy giảm mạnh. Nếu như năm 2002, tỷ lệ này là 45%, đến năm 2007 còn 31,34%. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu ngành cơ khí hiệp lực tăng. Giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng năm 2000 đạt 4 tỉ USD; năm 2007: 14,8 tỉ USD và năm 2008: 19 tỉ USD, bằng 24% tổng giá trị nhập khẩu. Trong khi đó, xuất khẩu các sản phẩm gia công cơ khí năm 2007 đạt 2,3 tỉ USD, và năm 2008: 2,9 tỉ USD. Do đó, nếu sản phẩm cơ khí hiệp lực trong nước phát triển, xuất khẩu nhóm hàng cơ khí hiệp lực được đẩy mạnh, chắc chắn sẽ làm giảm rõ rệt tỷ lệ nhập siêu.

Trong một văn bản cuối tuần qua gởi Thủ tướng Chính phủ, hiệp hội cơ khí hiệp lực Việt Nam đưa ra thống kê: trong giai đoạn 2007 – 2025, riêng tổng vốn đầu tư cho các nhà máy nhiệt điện chạy than, thuỷ điện, xi măng lò quay, sản xuất allumin đã cần tới 107 tỉ USD để mua, lắp đặt máy móc, thiết bị. Nếu như các doanh nghiệp sản xuất gia công cơ khí trong nước thực hiện được 50% trong tổng nguồn vốn đó, thì đã làm giảm đi 53,5 tỉ USD giá trị hàng nhập khẩu.

Không phải năng lực sản xuất của các doanh nghiệp cơ khí hiệp lực Việt Nam quá yếu. Mấy năm nay, nhiều doanh nghiệp tiến bộ nhanh trong lĩnh vực cơ khí hiệp lực. Ví dụ: tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) đã làm tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam khi trúng thầu các gói thầu 2 – 3 của nhà máy lọc dầu Dung Quất; chế tạo phần lớn các thiết bị chính của nhà máy nhiệt điện Na Dương, Phú Mỹ 3,4; làm tổng thầu EPC nhiệt điện Uông Bí (300 MW), nhiệt điện Cà Mau 750 MW… Tổng công ty Cơ điện xây dựng nông thôn và thuỷ lợi cũng đã sản xuất được những thiết bị lớn cho các công trình thuỷ điện: Sơn La, Ba Hạ…; chế tạo thành công những cẩu trục lớn so sức nâng trên 400 tấn...

 Theo ông Phạm Hùng, tổng giám đốc Lilama, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đủ khả năng thiết kế, chế tạo, lắp đặt trọn vẹn các nhà máy nhiệt điện than có công suất tổ máy lên đến 600MW, và tham gia thiết kế, cung cấp máy móc chế tạo cho nhiều công trình điện lớn khác với giá rẻ hơn nhiều các sản phẩm nhập khẩu, mà chất lượng tương đương. Tuy nhiên, hàng loạt các quy định, quy chế về đấu thầu, nhận thức của chủ đầu tư nhiều công trình, dự án về sản phẩm cơ khí hiệp lực trong nước, đã khiến cho việc ứng dụng các sản phẩm cơ khí hiệp lực nội địa dừng ở một tỷ lệ rất hạn chế, và khiến cho ngành cơ khí hiệp lực Việt Nam chậm phát triển.

Chính phủ không phải không có các chính sách để phát triển ngành cơ khí hiệp lực như đã có quyết định (số 186/2002/QĐ-TTg) phê duyệt chiến lược phát triển ngành cơ khí hiệp lực, trong đó có nhiều cơ chế ưu đãi để phát triển như: các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm gia công cơ khí trọng điểm được hỗ trợ vay ưu đãi đặc biệt (từ ngân hàng Phát triển Việt Nam) với lãi suất 3%/năm trong 12 năm. Nhưng bảy năm qua, chỉ có một dự án đầu tư chiều sâu của công ty cơ khí hiệp lực Hà Nội được vay 100 tỉ đồng với lãi suất này. Hàng loạt các dự án khác không vay được, hoá ra chỉ vì các văn bản hướng dẫn đã bó hẹp phạm vi cho vay chỉ còn là dự án đầu tư toa xe đường sắt, sản xuất động cơ diesel trên 300 mã lực.

Nhận ra nguy cơ khi khủng hoảng kinh tế thế giới kéo dài, máy móc, thiết bị giá rẻ nước ngoài tràn vào Việt Nam, thì sản xuất trong nước càng khó khăn, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ tìm giải pháp để các dự án, công trình sử dụng vốn ngân sách phải tận dụng sản phẩm gia công cơ khí nội địa. Một dự án điểm về nghiên cứu ứng dụng thiết kế, chế tạo thiết bị đồng bộ cho các nhà máy nhiệt điện chạy than có công suất đến 600MW đang được liên bộ (Công thương, Khoa học công nghệ, Tài chính) đề xuất triển khai bằng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách trên 165 tỉ đồng. Trước mắt, có thể áp dụng tại dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 (2 x 600MW) và dự án nhiệt điện Hải Phòng 3 (4 x 600MW)…

Đón bắt được chủ trương này, hiệp hội cơ khí hiệp lực Việt Nam đã đề nghị sửa luật Đấu thầu theo hướng: các dự án dùng vốn ngân sách nhà nước sẽ cho chỉ định thầu, hoặc tổ chức đấu thầu trong nước; nếu các doanh nghiệp nước ngoài tham gia thầu phải liên danh, hoặc chỉ làm thầu phụ cho doanh nghiệp Việt Nam. Bộ Công thương cũng có đề nghị cho các doanh nghiệp mua sản phẩm cơ khí hiệp lực trọng điểm trong nước vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi. Tổng công ty Lắp máy Việt Nam đã có đề nghị Thủ tướng cho tách các gói thầu có thể sử dụng sản phẩm, thiết bị cơ khí hiệp lực trong nước ở các dự án lớn để các doanh nghiệp trong nước cung ứng, lắp đặt…

Những kiến nghị này, có cái hợp lý (như hỗ trợ lãi suất), cũng có cái bất hợp lý (chỉ định thầu)…, nhưng tất cả phải được xem xét để quyết định sao cho việc áp dụng không vi phạm theo nguyên tắc của WTO và không kéo dài tình trạng bảo hộ. Hiện nay, khi sản xuất trong nước khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, và nhập siêu vẫn là bài toán nan giải, thì rõ ràng, Chính phủ cũng phải có lựa chọn chính sách thực tế. Ưu đãi về thuế hay lãi suất cho các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm cơ khí hiệp lực trong nước; cho vay ưu đãi để các doanh nghiệp cơ khí hiệp lực đầu tư… có lẽ là những chính sách cần thiết cho các doanh nghiệp cơ khí hiệp lực, bởi đây là ngành luôn đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài và lợi nhuận không cao, nên rất khó khăn khi đi vay từ các tổ chức tín dụng.

Mạnh Quân

 

Kiểu chọn tổng thầu EPC hiện nay đang bức tử ngành cơ khí hiệp lực

SGTT.VN - Ông Nguyễn Văn Thụ, chủ tịch hiệp hội doanh nghiệp cơ khí hiệp lực cho hay, theo thống kê của hiệp hội, sau 9 năm thực hiện quyết định 186 (năm 2002) về phát triển nhóm sản phẩm cơ khí hiệp lực trọng điểm, các doanh nghiệp cơ khí hiệp lực trong nước chỉ vỏn vẹn đầu tư được… 6 công trình.

Ý kiến ông Thụ là một trong nhiều ý kiến cho thấy chính sách thì nhiều, thực hiện rất ít, tại hội nghị sơ kết một năm “thực hiện các biện pháp tăng cường sử dụng máy móc, thiết bị, vật tư nguyên liệu trong nước sản xuất được trong công tác đấu thầu” diễn ra tại Hà Nội ngày 28.9.

Chính sách: nhiều, thực hiện: quá ít

 

 
Giàn khoan 90m nước, sản phẩm do ngành cơ khí hiệp lực Việt nam lắp ráp. Ảnh: chinhphu.vn

 

Một trong những nguyên nhân hàng đầu của tình trạng này là vì phần lớn tổng thầu EPC (khai thác/ cung ứng/ xây dựng) đều thuộc về nhà thầu nước ngoài, nhất là Trung Quốc, khiến họ làm tất cả các công đoạn thiết kế thi công, đưa trang thiết bị từ bên ngoài vào. “Nếu nhà thầu một nước công nghiệp phát triển G7 làm tổng thầu EPC thì chí ít các đơn vị Việt Nam còn được tham gia 30 - 40% khối lượng công việc của từng dự án, chứ doanh nghiệp Trung Quốc làm thì việc lớn hay bé chúng ta đều ra rìa”, ông Thụ nói.

Ông Ninh Viết Định, trưởng ban quản lý đấu thầu tập đoàn Điện lực (EVN) thanh minh rằng, tại các dự án của EVN do EPC Trung Quốc trúng thầu là đều do bị ràng buộc khi vay vốn, chứ không không phải EVN không muốn. Song theo ông Thụ, thậm chí có dự án vay vốn trong nước hoàn toàn mà vẫn giao cho nhà thầu Trung Quốc, như dự án nhà máy xi măng của tổng công ty cơ khí hiệp lực xây dựng.

Ông Thụ thừa nhận, không phải ngành cơ khí hiệp lực vỗ ngực cái gì cũng làm được, nhưng nếu nhà nước có cơ chế, chúng tôi sẽ học, đầu tư, vươn lên, như việc sản xuất thành công giàn khoan tự nâng 90m nước cho ngành dầu khí ngày 1.9 vừa qua. “Từ Đảng, Chính phủ, đến bộ Công thương đã có nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng nói ưu tiên cho ngành công nghiệp cơ khí hiệp lực, nhưng việc thực hiện chưa được bao nhiêu”, ông Thụ đánh giá.

Bán ra nước ngoài dễ hơn bán trong nước

Đại diện vụ Năng lượng (bộ Công thương) nhận định, hiện các doanh nghiệp cơ khí hiệp lực còn yếu về liên kết, ví dụ cùng một dự án song có ba doanh nghiệp trong hiệp hội gia công cơ khí cùng bỏ giá rẻ. “Đừng làm đối thủ của nhau mà phải liên kết, chụm đầu lại cùng làm, bởi theo quy hoạch điện VII, đến năm 2015 các thiết bị cho ngành điện phải dùng hàng sản xuất trong nước 40%, và tăng lên 70% vào năm 2020”, vị này khuyên.

“Trách cơ chế nhưng trước tiên cũng phải tự trách mình”, ông Thụ nhìn nhận tình trạng làm ăn của doanh nghiệp gia công cơ khí còn manh mún, bảo thủ, dẫn đến xuất xứ hàng hóa để giám định khó khăn… Song ông cũng nói “không phải không làm được” vì thực tế bao giờ tổng thầu cũng thuê lại thầu phụ với không ít việc nhỏ, như cung cấp máy lọc bụi, than, nước… trong dự án nhiệt điện, các thiết bị của nhà máy xi măng, đến các sản phẩm phức tạp như cẩu trục, nồi hơi…

Ông dẫn thực tế: nhà máy cơ khí hiệp lực Doosan (Dung Quất) xuất khẩu cẩu trục đi khắp thế giới, vậy mà 10 năm qua chỉ bán được ở Việt Nam… 2 cái cho cảng Hải Phòng; hay sản phẩm cột phóng điện của nhà máy UPI Phú Thái xuất khẩu cả năm được 25 ngàn tấn, được Ấn Độ ưa chuộng thì lại trầy trật ở thị trường trong nước.

Tổng giám đốc tổng công ty Máy và thiết bị công nghiệp Vũ Việt Kha cũng cho rằng, nếu nhà nước không có các “cơ chế cứng” buộc các tập đoàn khi dùng vốn nhà nước phải ưu tiên các sản phẩm trong nước sản xuất được thì “đơn vị nào cũng muốn đi nhập hàng ngoại”.

Trước thực trạng ấy, đại diện các doanh nghiệp gia công cơ khí kiến nghị; các chủ đầu tư khi phải tách, chia nhỏ các gói thầu trong tổng thầu EPC để “ưu tiên” cho doanh nghiệp nhà; đặc biệt Nhà nước vận dụng nhiều hơn nữa cơ chế chỉ định thầu để chủ đầu tư được quyền lựa chọn các doanh nghiệp trong nước - như việc tập đoàn Dầu khí chọn nhà thầu Việt Nam trong đóng mới dàn khoan 90m nước. “Nếu không, với hình thức đấu thầu EPC như hiện nay, các doanh nghiệp Trung Quốc, bằng lợi thế bỏ thầu giá rẻ, sẽ cho doanh nghiệp Việt Nam ra rìa”, ông Thụ lo lắng.

Ông Nguyễn Văn Tài, phó vụ trưởng vụ Kinh tế ngành (Văn phòng Chính phủ) chỉ ra rằng: Chủ trương tách EPC đã có từ lâu nhưng chế tài để nhà đầu tư tách chưa có. Điều này dẫn đến “các chủ đầu tư khi tổ chức đấu thầu EPC chả tách làm gì cho mệt”.

Bởi thế, trước mắt, thứ trưởng bộ Công thương Lê Dương Quang chỉ biết “vận động” một số tập đoàn, tổng công ty phải có biện pháp cụ thể như ban hành chỉ thị riêng, lập kế hoạch mua sắm thiết bị trong nước đi kèm đó là xây dựng quy định để xử lý các đơn vị thành viên nếu không thực hiện.

Thứ trưởng Quang thông tin, hiện các mặt hàng nhóm máy móc, nguyên vật liệu chiếm đến 83% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.

 

Áp thuế nhập khẩu 0% cho thiết bị sản xuất gia công cơ khí trọng điểm

SGTT.VN - Ngày 28.12, bộ Tài chính đã ban hành thông tư hướng dẫn chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi đối với vật tư, thiết bị nhập khẩu để sản xuất sản phẩm cơ khí hiệp lực trọng điểm và để đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí hiệp lực trọng điểm.

Theo đó, các vật tư, thiết bị nói trên được áp dụng mức thuế nhập khẩu ưu đãi 0%. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký (28.12.2010), tức khoảng giữa tháng 2.2011.

Để được hưởng mức thuế này, vật tư, thiết bị phải thuộc trong quy định tại danh mục các sản phẩm cơ khí hiệp lực trọng điểm giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015 và danh mục các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí hiệp lực trọng điểm giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg.

 

Cơ hội nào cho ngành cơ khí hiệp lực nông nghiệp?

SGTT.VN - Thương nhân đủ kinh doanh xuất khẩu gạo từ 1.1.2011 phải có ít nhất một cơ sở xay, xát lúa gạo với công suất tối thiểu 10 tấn lúa/giờ, phù hợp quy chuẩn chung do bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành. Quy định này đang mở ra cơ hội lớn cho ngành cơ khí hiệp lực phục vụ nông nghiệp.

 

 
Kho chứa lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Lê Hoàng Yến

 

Ông Bùi Phong Lưu, giám đốc công ty TNHH Công – nông nghiệp Bùi Văn Ngọ nói rằng khi nghị định 109-2010/NĐ-CP vừa ban hành, đã có người hỏi ông: Liệu nghị định này sẽ mang lại cơ hội lớn cho nhà cung cấp thiết bị chế biến lúa gạo như ông?

Không chờ quy định mới

Thực ra ba năm nay, các doanh nghiệp chế biến gạo đã đẩy nhịp độ chuyển đổi theo hai hình thức: nâng cấp hoặc lắp mới thiết bị. Đặc tính chuyển đổi: công suất lớn hơn, dây chuyền khép kín chứ không chỉ lau bóng, xát trắng; chú ý công nghệ mới, hút chân không để kéo dài thời gian bảo quản. Muốn mở rộng quy mô, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ túi tiền để quyết định đầu tư một lần đồng bộ hay từng phần.

Khu vực tư nhân đã hướng tới cơ ngơi có: bãi tập kết (có âu thuyền, bốc dỡ ngày đêm); thiết bị sấy; có nhà máy xay xát; có kho chứa lúa, gạo tách biệt và năng lực làm sạch.

Các tổng công ty, thường dựa vào hệ thống tư nhân làm gạo để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu, họ cũng đã chuyển đổi trong mấy năm gần đây. Tại Đồng Tháp, một doanh nghiệp tư nhân đầu tư hai nhà máy xay xát và lau bóng gạo xuất khẩu, kho rộng 30.000m2 sức chứa 10.000 tấn gạo. Hệ thống kho chứa và nhà máy chế biến gạo này đã giúp doanh nghiệp này cung ứng cho Vinafood 1, Vinafood 2 không dưới 50.000 tấn gạo/năm.

Nhu cầu lớn

Theo TS Nguyễn Duy Cần, thuộc viện Nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long, toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long cần khoảng 18.000 máy sấy (sấy tháp và sấy tĩnh) mới. Tuy nhiên, nhu cầu thực tế chuyển rất chậm do hoạt động khuyến nông, khuyến công, huấn luyện kỹ thuật và sự khởi xướng ở các cấp... chưa đồng bộ.

Một chuyên gia thuộc viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long nói, con số chứng minh năng lực chế biến ở Việt Nam hết sức mù mờ, ngoại trừ khu chợ gạo Bà Đắc (Tiền Giang). Tuy nhiên, nơi tập trung giao dịch lớn nhất miền Tây này, chủ yếu là nhà máy xát trắng, lau bóng. Nhà máy bóc vỏ lúa phân tán nhiều nơi.

Theo TS Phạm Văn Tấn, phân viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch, nếu đầu tư đúng cho hệ thống silo, kho chứa lúa gạo... giảm tổn thất sau thu hoạch, sẽ giúp nông dân Việt Nam thu thêm ít nhất 226 triệu USD/năm. Theo tính toán của ông, đầu tư một silo có sức chứa 10.000 tấn, giá thành xây dựng 600.000 USD; hệ thống sấy có công suất 20 – 24 tấn/giờ, cần khoảng 245.000 USD; dây chuyền chế biến gạo có công suất 10 – 12 tấn/giờ cần 355.000 USD. Một địa điểm được đầu tư hoàn thiện tốn khoảng 1,2 triệu USD. Nếu làm 400 địa điểm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, cần khoảng 480 triệu USD.

Cửa nào cho ngành cơ khí hiệp lực nông nghiệp?

 

Năm 2009, theo bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các kho chứa gạo của Việt Nam khoảng 2 triệu tấn, cần xây thêm các kho có sức chứa 2,8 triệu tấn lúa gạo theo tiêu chuẩn hiện đại.Hiện nay, riêng Kiên Giang có sản lượng lúa 3,4 triệu tấn/năm nhưng toàn tỉnh chỉ có 17 kho chứa 150.000 tấn gạo. Các doanh nghiệp muốn xây thêm 25 kho chứa khoảng 600.000 tấn gạo nữa.

 

Là giám đốc một đơn vị có khả năng sản xuất theo đơn đặt hàng trong nước 400 tỉ đồng (chưa kể xuất khẩu), ông Bùi Phong Lưu, khẳng định: “Các đơn vị sản xuất trong nước có thể thoả mãn tất cả yêu cầu của các nhà đầu tư”.

Nhập thiết bị về chắc chắn thời gian lắp ráp lâu hơn, suất đầu tư cao hơn, chi phí đầu tấn cao hơn... hàng nội. Các nhà đầu tư nhận xét: hiện nay, một máy bóc vỏ cùng công suất, máy của công ty Bùi Văn Ngọ rẻ hơn Ấn Độ 50%; một máy tách màu nhập khẩu từ Nhật giá gấp năm lần của công ty Bùi Văn Ngọ. Đầu tư thiết bị đồng bộ từ thiết bị của nhà máy Bùi Văn Ngọ, giá chỉ bằng 1/5 – 1/4 giá máy nhập từ Ấn Độ. “Nếu có một dự án, tần suất 10 giờ/ngày, mỗi năm chạy 200 giờ thì mua máy trong nước chạy 2 – 2,5 năm là thu hồi vốn”, ông Lưu quả quyết.

Tuy nhiên, nhìn từ thực tế đầu tư, cơ hội dường như chỉ đến với ngành cơ khí hiệp lực phục vụ nông nghiệp một khi họ lọt vào mắt xanh của những nhà đầu tư có dự án ưu đãi hoặc những “khách hàng thân thiết” của các nhà băng, để ý tới.

Sản lượng hàng cơ khí hiệp lực, điện, điện tử giảm mạnh

SGTT.VN - Theo thống kê của bộ Công thương, trong tháng 7, ngành sản xuất hàng cơ khí hiệp lực, điện, điện tử tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn do sức mua giảm mạnh, tồn kho nhiều. Sản lượng nhiều mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: máy điều hoà nhiệt độ giảm 30,6%; bình đun nước nóng giảm 25,6%; sản lượng ôtô giảm 12,7%; xe máy giảm 5,1%...

Các siêu thị điện máy liên tục tung ra các chương trình khuyến mãi dành cho nhiều đối tượng khách hàng để hỗ trợ sức mua, xả hàng tồn kho, nhưng sức mua vẫn yếu, nên tăng trưởng chưa cao. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu các sản phẩm của ngành vẫn tăng trưởng tốt như: kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện của tháng 7 năm 2012 tăng 176,8% so với cùng kỳ, bảy tháng đạt 6,2 tỉ USD, tăng 151,6% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 60,3% so với cùng kỳ, 7 tháng ước đạt 3,9 tỉ USD, tăng 81,3% so với cùng kỳ; giá trị xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 30,9% so với cùng kỳ, bảy tháng ước đạt 3,1 tỉ USD, tăng 40,4% so với cùng kỳ năm ngoái.